Ngữ văn lớp 9

Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du (dàn ý và bài làm chi tiết)

Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du (dàn ý và bài làm chi tiết)

* Giới thiệu đoạn trích: Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đoạn trích từ câu 1033 đến câu 1054, phần “Gia biến và lưu lạc”. Đoạn trích nói về việc Thúy Kiều bị Tú Bà giam lỏng ở lầu Ngưng Bích sau khi nàng bán mình chuộc cha.

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài (Viết theo kiểu gián tiếp):

* Đi từ cái chung đến cái riêng:

– Truyện Kiều là tuyệt phẩm trong kho tàng văn học Việt Nam, nổi tiếng với nghệ thuật đặc sắc

– Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một minh chứng cho việc sử dụng nghệ thuật uyên thâm trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

* Khái quát nội dung: Đoạn trích kể về việc Thúy Kiều bị Tú Bà lừa ra ở lầu Ngưng Bích.

2. Thân bài: Bám sát bố cục của đoạn trích để phân tích:

2.1. Cảnh thiên nhiên và bi kịch nội tâm của Thúy Kiều

– Đặc điểm không gian: Không gian đa chiều (chiều rộng, chiều xa, chiều cao)

+ Dẫn chứng: các từ ngữ: non xa, trăng gần, bát ngát, “Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia”

+ Tạo nên sự cô đơn, lạc lẫm, hiu quạnh của Thúy Kiều khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích

– Đặc điểm thời gian: khép kín, mỗi ngày chỉ đơn giản là “mây sớm đèn khuya”

– Kết luận: Thời gian cũng như không gian giam giữ Thúy Kiều: Hằng ngày, Kiều chỉ thui thủi một mình với cảnh “mây sớm đèn khuya”.Do đó, nàng rơi vào trạng thái cô độc.

– Chuyển ý: Ngoài tâm trạng cô đơn, Thúy Kiều còn thể hiện tâm trạng ngổn ngang, rối bời: vừa nhớ thương cha mẹ, người yêu và lo lắng cho tương lai của chính mình.

2.2. Nỗi nhớ thương của Thúy Kiều

– Trong cảnh ngộ của mình, Kiều nhớ tới người yêu trước, nhớ tới cha mẹ sau là hợp lí.

a/ Thúy Kiều “tưởng” đến Kim Trọng

– Nàng nhớ đến buổi thề nguyện đính ước

– Trong lòng day dứt vì nghĩ rằng Kim Trọng đang chờ mong tin nàng một cách vô ích

– Nàng nhớ về Kim Trọng với tâm trạng đau đớn, day dứt về mối tình đầu

– Nàng còn tự trách mình vì đã không thủy chung với Kim Trọng

b/ Thúy Kiều “xót” đến cha mẹ:

– Nhớ đến cha mẹ với nỗi xót xa, lo âu

– Nghĩ rằng ở nhà không có ai phụng dưỡng cho cha mẹ lúc già yếu: “Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ”; “Có khi gốc tử đã vừa người ôm”…

* Chốt ý: Thúy Kiều là người tình chung thủy, người con hiếu thảo và là người tình nghĩa

2.3. Bão táp nội tâm của Thúy Kiều

(Trong quá trình viết phần này nên liên hệ các tác phẩm khác có cùng nội dung để làm nổi bật luận điểm, linh hoạt trong việc chọn lựa tác phẩm)

– Nghĩ đến bản thân mình, Thúy Kiều đã bốn lần “Buồn trông…”

– Cảnh vật có thể là cảnh thực những cũng có thể là cảnh hư (do được nhìn qua tâm trạng của Thúy Kiều)

– Điệp ngữ “Buồn trông” kết hợp từ láy gợi hình, gợi thanh, ngôn ngữ độc thoại: Tác giả đã diễn tả thành công nỗi buồn cô đơ, đau đớn, xót xa, tuyệt vọng, tầng tầng lớp lớp đang dâng ngập tâm hồn Kiều.

– Cảnh được nhìn xa đến gần, từ nhạt đến đậm. Âm thanh được miêu tả từ tĩnh tới động. Từ đó, miêu tả tâm trạng của Thúy Kiều một cách cụ thể: từ man mác đến hoảng sợ  

3. Kết bài

– Tổng kết lại nội dung, nghệ thuật của đoạn trích (dựa vào những điều đã phân tích ở THÂN BÀI để tóm tắt)

– Cảm nghĩ của người viết về đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (phát biểu cảm nghĩ của bản thân mình)

phan tich doan trich kieu o lau ngung bich - Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du (dàn ý và bài làm chi tiết)

Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích

Bài làm tham khảo

Xem thêm:  Giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao

Truyện Kiều là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất trong kho tàng văn học Việt Nam. Có thể nói, các nghệ thuật trong văn học đã được Nguyễn Du vận dụng rất tinh tế để triển khai nội dung trong tác phẩm của mình. Đặc biệt; các yếu tố từ ngữ cách tân, độc thoại, đối thoại… đã được ông phát triển ở tầm cao mới sơ với những thời trước. Chúng ta có thể nắm bắt rõ vẻ đẹp nghệ thuật sắc sảo ấy qua đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.

Đoạn trích là một trong minh chứng điển hình cho bút pháp tài hoa của Nguyễn Du. Về nội dung, đoạn trích thuật lại việc Kiều bị Tú Bà lừa, giam lỏng ở lầu Ngưng Bích sau khi nàng bán mình chuộc cha. Chắc hẳn, chúng ta đều có thể đoán biết được tình cảnh của Kiều giờ đây. Đó là sự cô đơn, là sự khắc khoải lo âu… Nguyễn Du cũng đã miêu tả những tình cảnh ấy nhưng không phải bằng cách viết thông thường mà bằng lối văn “tả cảnh ngụ tình”. Ngay ở đầu đoạn trích, ta đã ngắm được cảnh thiên nhiên với nhiều gam màu cảm xúc:

“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân

Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung

Bốn bề bát ngát xa trông

Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia

Bẽ bàng mây sớm đèn khuya

Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.”

Trước hết, ta bắt gặp cụm từ “khóa xuân”. “Khóa xuân” ở đây nghĩa là khóa kín, giam hãm tuổi xuân; cho ta biết Kiều đang bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích. Từ lầu Ngưng Bích “khóa xuân” ấy, Thúy Kiều đã nhìn về cảnh quan ngoài kia. Nàng thấy một “vẻ non xa”, một “tấm trăng gần” nhưng vì xa quá nên chúng như ở “chung” một nơi. Không gian, theo chiều cao của cảnh, thật yên ắng và trơ trọi. Nhìn ra xa rồi Kiều nhìn ra xa cả “bốn bề”. Với từ láy gợi hình “bát ngát” và cụm từ “xa trông”, không gian như trải dài ra xa và mênh mông vô tận. Trong khôn gian ấy, Kiều trông thấy “Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia”. Một cồn “cát vàng” trơ trụi và một “bụi hồng” gai góc đơn độc, đã vậy còn nằm xa nhau (“nọ”, “kia”) dễ dàng gợi ra trong chúng ta sự cô đơn của cảnh vật hay chính là của người con gái ấy – Thúy Kiều. Sự cô đơn ấy càng được nhấn mạnh qua từ láy “bẽ bàng” và thành ngữ “mây sớm đèn khuya” ở câu thơ sau. Thúy Kiều đã “bẽ bàng” ngày qua ngày chỉ với hình ảnh “mây sớm đèn khuya”. Ở trong chiếc lầu ấy, suốt ngày, nàng chỉ có thể thấy “mây sớm”, “đèn khuya” rồi “mây sớm”, “ đèn khuya quần đi quần lại. Có thể thấy chúng là một vòng khép kín cứ tuần hoàn nhạt nhẽo. Chúng như một chiếc lồng lớn giam hãm Thúy Kiều hằng ngày.  Sự cô đơn của Kiều đã lên đến tuyệt đối, đó là sự cô độc. Cuối cùng, Nguyễn Du chốt ý: “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Qua đó, cho chúng ta thấy ông đã vận dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình để miêu tả nội tâm của Thúy Kiều: “chia tấm lòng”. Quang cảnh lại hiện lên một cách đa chiều; theo chiều cao, chiều xa và chiều rộng dưới tầm mắt nhỏ bé của Thúy Kiều đã nói lên cụ thể tình cảnh của nàng: cô độc và không một bóng người.

Trong tình cảnh lẻ loi đơn chiếc ấy, nàng vẫn chưa màng tới bản thân. Nàng chỉ nhớ đến những người đã mang ân nặng nghĩa đầy với mình:

“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ

Sân Lai cách mấy nắng mưa

Có khi gốc tử đã vừa người ôm.”

Nàng nhớ đến Kim Trọng trước, nhớ đến cha mẹ sau. Theo lễ giáo phong kiến xưa thì điều này là đáng bị phê phán những xét về tình cảnh của nàng thì điều này là hợp lí. Vì với cha mẹ, nàng đã làm được một việc để báo hiếu hai người: bán mình chuộc cha. Còn với Kim Trọng, nàng chưa làm gì để đáp lại mối ân tình sâu đắm của chàng. Bi kịch bất ngờ xảy đến có lẽ đã làm đau đáu trong Kiều nỗi niềm day dứt này ngay từ lúc ấy. Hơn nữa, xét về tâm lí của một người con gái vừa thề nguyện đính ước như Kiều thì người yêu quả là rất quan trọng với nàng. Thúy Kiều nghĩ về hai bên theo thứ tự như vậy là hợp lí, và ở mỗi nỗi nhớ lại bộc lộ những phẩm chất riêng của nàng. Nhớ đến Kim Trọng, nàng dùng từ “tưởng”. “Tưởng” gợi một nỗi nhớ da diết, luôn có hình bóng sự vật mình nhung nhớ trong tâm thức. Từ “tưởng” cho thấy tình yêu tha thiết của Thúy Kiều đối với chàng Kim, đến mức hình bóng của chàng luôn có trong nàng. Có lẽ vì mối tình ấy quá đẹp: “dưới nguyệt chén đồng”. Nhớ đến Kim Trọng, nàng còn thấy xấu hổ và tự trách mình. Nàng nghĩ rằng chàng Kim không biết nàng gặp nạn, còn đang “rày trông mai chờ” tin nàng bên một “góc bể bơ vơ” nào đó. Nàng tự day dứt vì đã khiến người yêu trông mong mình một cách vô ích như vậy chăng? Nàng rât hổ thẹn khi giờ đây phải ở chốn “lầu xanh”, làm sao có thể hẹn ước trăm năm, chung thủy son sắt với chàng Kim “tài mạo tót vào”? Nàng đã tự bạch qua câu hỏi tu từ “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”. Qua nỗi nhớ người yêu, Kiều hiện lên là một người rất tình nghĩa và hiểu rõ nhân nghĩa. Sau đó, nàng “xót” đến cha mẹ mình. Từ “xót” gợi sự nhớ nhung pha với lòng thương và sự xót xa. Cùng với câu hỏi tu từ “Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ” và hình ảnh lão Lai Tử, nàng đã thể hiện lòng hiếu thảo sâu sắc của mình với cha mẹ. Nàng thương xót phụ mẫu khi nghĩ rằng không còn mình thì ai sẽ phụng dưỡng cha mẹ cho chu đáo. Hình ảnh ẩn dụ “cách mấy nắng mưa” tượng trưng cho quãng thời gian dài mà nàng đã xa cha mẹ, nhấn mạnh sự thương nhớ và lo lắng của nàng. Nàng lo lắng khôn nguôi rằng cha mẹ sẽ sớm già yếu (hình ảnh “gốc tử đã vừa người ôm”) mà phận làm con thì cứ chơi vơi nơi đất khách quê người. Qua nỗi nhớ phụ mẫu, nàng hiện lên là người con rất đỗi hiếu thảo và thương yêu cha mẹ. Từ hai nỗi nhớ tha thiết trên, Kiều đã tỏ ra là người rất tình nghĩa và hiếu thảo. Nếu như đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” là đỉnh cao về miêu tả vẻ đẹp ngoại hình thì ở đây, Nguyễn Du đã thành công rực rỡ trong việc lột tả vẻ đẹp tâm hồn. Quả thật đã thành công lớn!

Xem thêm:  Hai bức tranh “mùa thu xưa - mùa thu nay” và sự thay đổi về cảm xúc của Nguyễn Đình Thi trong bài thơ “Đất nước”

Đoạn thơ cuối cùng còn đặc sắc hơn rất nhiều đoạn trên khi mà nội tâm Thúy Kiều được lột tả hoàn toàn. Nàng đã lo lắng cho chính mình rằng:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là viết đâu

Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông nước cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Tâm trạng của nàng là một nỗi buồn bao trùm. Điệp ngữ “Buồn trông” bốn lần xuất hiện làm tăng sự buồn bã của nàng. Và ở mỗi lần “Buồn trông…”, mức độ buồn như tăng thêm một bậc. Ở lần đầu, nàng trông thấy:

“Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”

Không gian chiều hôm gợi sự buồn bã, im ắng, lẻ loi. Như một câu ca dao khác cũng có cảnh này “Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.”, quả là cảnh làm cho lòng người buồn đi. Cảnh đã buồn, đã sầu thảm, lại xuất hiện cánh buồm “thấp thoáng”, mờ mờ ảo ảo, hư hư thực thực, càng làm tăng thêm sự cô độc của Kiều. Như Bà huyện Thanh Quan đã từng viết “Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông chợ mấy nhà” : Trong một không gian hoang vu, bỗng có người và sự vật xuất hiện nhưng chỉ lèo tèo, không rõ mặt thì chỉ càng làm tăng thêm vẻ hoang vu. Ở Thúy Kiều cũng vậy, “cánh buồm” “thấp thoáng” làm nàng thêm cô đơn, buồn tủi. Sau “cánh buồm”, nàng còn bắt gặp:

Xem thêm:  Phân tích tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao- văn lớp 9

“Buồn trông ngọn nước mới sa

Hoa trôi man mác biết là về đâu”

Nàng đang lo lắng về tương lai của chính mình, không biết rồi sẽ trôi dạt đến nơi nao. Có lẽ nàng cũng đã dự cảm về số phận long đong, bạc mệnh của mình. Bởi vì hình ảnh ẩn dụ “hoa trôi man mác” chính là tượng trưng cho cuộc hành trình phập phồng chông chênh ấy. Một bông hoa nhỏ bé giữa một biển nước mênh mông, thật khó mà đương đầu cho được. Số phận của Kiều phải chăng chính là câu thơ của Hồ Xuân Hương: “Thân em vừa trắng lại vừa tròn/ Bảy nổi ba chìm với nước non”. Thật bi thương! Tiếp theo, nàng nhìn về “nội cỏ”:

“Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

Nổi bật lên trên hai câu thơ là một nỗi buồn vô vọng. Bằng phép tả cảnh ngụ tình: “nội cỏ rầu rầu”; tác giả đã vẽ nên một nỗi buồn rười rượi. Và vì nàng còn buồn hơn thế nữa nên “chân mây mặt đất” với nàng chỉ là một màu “xanh xanh” đơn điệu. Nỗi buồn lo về phận đời này sao có thể đẹp bằng niềm vui chớm nở trong tiết Thanh minh: “Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa” cơ chứ! Thật là “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ (Nguyễn Du)”. Cuối cùng, nàng chỉ còn thấy sóng gió:

“Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

Âm thanh “ầm ầm” của tiếng sóng nghe thật kinh hoàng, dữ dội. Đã vậy lại còn “kêu quanh ghế ngồi”, làm sao không khiếp sợ cho được? Nỗi sợ ấy phải chăng là nỗi sợ bùng cháy trong Thúy Kiều? Quả thật là vậy. Trước bao lo lắng, trắc trở về người yêu, gia đình và chính bản thân, nàng đã thực sự tỏ ra sợ hãi. Âm thanh “ầm ầm” vây quanh nàng như nỗi sợ dâng lên kề đầu ngập cổ nàng. Nàng đang run sợ, rối bời vô cùng. Có lẽ đây cũng là nguyên nhân khiến sau này nàng mắc lừa gã Sở Khanh gian trá. Bằng cách khắc họa cảnh vật từ hư đến thực, âm thanh từ tĩnh đến động, đoạn thơ đã cho thấy nỗi buồn lo và sợ hãi như tầng tầng lớp lớp sóng gió đang dâng ngập lòng Kiều. Có thể khẳng định rằng: Đây là một cơn bão táp nội tâm!

Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” đặc sắc về cả nghệ thuật lẫn nội dung. Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình kết hợp từ ngữ đặc sắc và điển tích hòa hợp, Nguyễn Du đã vẽ nên tình cảnh, nỗi nhớ và tâm trạng của Kiều khi ở lầu Ngưng Bích. Một lần nữa, tư tưởng nhân văn của Truyện Kiều lại được khẳng định thông qua đoạn trích trên: Kiếp người tài hoa bạc mệnh:

“Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau.”

Nguyễn Đức Minh

Lớp 9/1 – Trường THCS Thủy Phương, Tx Hương Thủy, Thừa Thiên Huế

Từ khóa tìm kiếm:

  • phan tich doan trich kieu o lau ngung bich lam bai van ngan
  • phân tích tác phẩm kiều ở lầu ngưng bích