Ngữ văn lớp 11

Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương (dàn ý và bài làm chi tiết)

Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương (dàn ý và bài làm chi tiết)

Dàn ý chi tiết

A. Mở bài:

 – Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Thi cử là một đề tài khá đậm nét trong thơ của Trần Tế Xương gồm mười ba bài cả thơ và phú . "Vịnh khoa thi Hương" là một sáng tác tiêu biểu trong đó với phong cách thơ trao phúng

 – Nêu nội dung: thể hiện sự căm phẫn của ông trước cái nhốn nháo trong thi cử đương thờ

 – Khái quát chung

B. Thân bài:

* 2 câu đề:

 – Thông báo sự việc: ba năm có một khoa thi 

 – "lẫn": sự hỗn độn, ô hợp 

=> sự hỗn độn của một kì thi, như báo trước sự thiếu nghiêm túc, ô hợp trong thi cử

* 2 câu thực: Hình ảnh sĩ tử & quan trường 

  – Sĩ tử: ăn mặc lôi thôi, lếch thếch 

  – Quan trường: hết lên qua loa,  giọng nói ậm ọe ghê tởm 

 => Châm biếm sự nhốn nháo, ô hợp trong thi cử 

 => Thể hiện thái độ khinh bỉ, coi thường 

* 2 câu luận: Ý nghĩa châm biếm 

  – Lọng: vật che đầu cho quan viên người Pháp 

 => dấu hiệu sự thống trị của bọn thực dân 

 – Váy lê: sự nhục nhã của người dân mất nước

* 2 câu kết: thái độ và lời nhắn gửi 

 – Thái độ: căm ghét, bất bình

 – Nhắn gửi các sĩ tử  cần thấy rõ nỗi nhục mất nước 

Xem thêm:  Văn nghị luận: Bàn về hai chữ “Vinh - nhục”

* Khát quát nghệ thuật 

* Liên hệ mở rộng 

C. Kết bài

 – Khái quát lại vấn đề: Với sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp hiện thực và bút pháp trữ tình, Vịnh khoa thi Hương không chỉ tao ra tiếng cười mà tiếng cười ấy còn có tác động đến nhận thức của con người trong xã hội ấy. 

 – Cảm nhận cá nhân 

phan tich bai tho vinh khoa thi huong - Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương (dàn ý và bài làm chi tiết)

Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương

Bài làm tham khảo

Thi cử là một đề tài khá đậm nét trong thơ của  Trần Tế Xương gồm mười ba bài cả thơ và phú . "Vịnh khoa thi Hương" là một sáng tác tiêu biểu trong đó với phong cách thơ trao phúng. Bài thơ đã thể hiện sự căm phẫn của ông trước cái nhốn nháo trong thi cử đương thời:

"Nhà nước ba năm mở một khoa

…………………………………………….

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà "

Mở đầu là lời thông báo một sự việc rất đỗi bình thường :

"Nhà nước ba năm mở một khoa"

Theo luật lệ do nhà Nguyễn đặt ra thì cứ ba năm lại mở một khoa thi. Thế nhưng cái khác của bây giờ là ở chỗ:

"Trường Nam thi lẫn với trường Hà"

Quả đúng là khác thường. Do tình hình chính trị bất ổn nên các sĩ tử ở Hà Nội phải thi chung với các sĩ tử ở trường thi Nam Định. Chữ "lẫn" mà tác giả đặt ở giữa câu thơ đã làm lộ ra cái sự hỗn độn của một kì thi, như báo trước sự thiếu nghiêm túc, ô hợp trong thi cử. Đây cũng là chủ trương giảm bớt kì thi tiến tới chấm dứt chế độ thi cử bằng chữ Hán giai đoạn 1915 – 1918. Và cũng từ sự hỗn độn này mà mở ra là hình ảnh nơi trường thi đầy bát nháo và nhăng nhố:

Xem thêm:  Bình luận bài “Về luân lí xã hội ở nước ta” của Phan Châu Trinh

"Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm oẹ quan trường miệng thét loa"

Kết cấu đảo ngược, tính từ được đưa lên đầu câu đã phô ra hết cái lộn xộn, nực cười nơi trường thi. Sĩ tử đi thi phải là những người ăn mặc chỉnh tề, ra dáng người có học thức vậy mà ở đây họ lại trong bộ dạng lôi thôi, lếch thếch: vai đeo lọ. Phần nào cũng là do trường thi quá đông nên họ phải chen lấn xô đẩy nên mới thành ra như vậy. Không chỉ riêng sĩ tử mà đám quan trường cũng chẳng hơn là mấy. Thay vì giọng nói rõ ràng, dõng dạc là tiếng gào thét trên loa, giọng nói gợi sự ghê tởm. Tác giả đang trực tiếp châm biếm cảnh tượng hỗn độn làm mất đi cái uy nghiêm vốn có. Đồng thời thể hiện thái độ khinh bỉ, ghê tởm với kì thi Hương mà ông được chứng kiến.

Đến với hai câu luận:

"Long cắm rợp trời quan sứ đến 

Váy lê quét đất mụ đầm ra"

Quan sứ đến hay cũng chính là viên quan người Pháp đứng đầu bộ máy cai trị cùng vợ của hắn đến. Đây chính là dấu hiệu của sự hiện diện và thống trị của thực dân Pháp. Xưa kia, nước Việt vốn quan niệm đàn bà, phụ nữ chỉ làm công việc nhà và không được học hành hay tham gia thi cử vậy mà trong khoa thi này lại xuất hiện hình ảnh "váy lê". Đây không khác gì một nỗi nhục nhã của người dân mất nước. 

Xem thêm:  Nêu cảm nhận của anh (chị) về bốn câu thơ đầu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mạc Tử)

Trước thực trạng ấy tác giả đã bày tỏ thái độ của cá nhân cùng lời nhắn nhủ:

"Nhân tài đất Bắc nào ai đó 

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà "

"Nhân tài đất Bắc" là cách gọi đầy mỉa mai, chế giễu đối với những sĩ tử lôi thôi kia. Bên cạnh đó còn là thái độ bất bình, căm ghét thực trạng hỗn độn. Cùng với đó là lời nhắn nhủ gửi tới các sĩ tử – những nhân tài tương lai của đất nước cần nhận thấy rõ nỗi nhục mất nước để từ đó hành động sao cho đúng nghĩa là một con dân nước Việt.

Với sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp hiện thực và bút pháp trữ tình, Vịnh khoa thi Hương không chỉ tao ra tiếng cười mà tiếng cười ấy còn có tác động đến nhận thức của con người trong xã hội ấy. 

Lê Thị Thư

Lớp 11A2 – Trường THPT Thái Ninh, Thái Thụy, Thái Bình