Ngữ văn lớp 10

Phân tích bài thơ Tương Tư của Nguyễn Bính

Phân tích bài thơ Tương Tư của Nguyễn Bính

Bài làm

Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới. Khác với những nhà thơ khác khi tìm về sự lãng mạn của thi ca Pháp thì ông lại trở về với văn hóa dân gian, gắn liền với những môi trường gần gũi, thân thuộc của đồng quê. Chính vì thế những sáng tác của ông đều thấm đẫm hương vị của quê hương, xứ sở. Tiêu biểu nhất chính là bài thơ Tương tư.

Tương tư được rút từ tập thơ “Lỡ bước sang ngang”, là bài thơ mang phong cách thơ của Nguyễn Bính trước cách mạng tháng Tám. Trước hết ngay ở nhan đề của bài thơ ta có thể thấy được “tương tư” nghĩa là nhớ nhau, nỗi nhớ nhung giữa con người với con người. Ngay ở mở đầu bài thơ ta đã có thể thấy được sự nhớ nhung được Nguyễn Bính gợi tả:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười thương một người”

Từ nỗi nhớ của một người được ví như nỗi nhớ của một vùng, một thôn này với thôn khác. Hai thôn hiện lên thật bình dị, thật gần gũi và được kết nối với nhau bằng nỗi nhớ. Qua đó cũng để nói lên nỗi lòng mình:

“Nắng mưa là bệnh của giời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”

Phân tích bài thơ Tương Tư của Nguyễn BínhMượn chuyện nắng mưa để giãi bày tâm trạng của mình. Tác giả coi chuyện nắng mưa hiển nhiên là bệnh của giời và nó giống như việc tương tư, nhớ nhung chính là một căn bệnh của mình. Nó giống như một quy luật bình thường của tự nhiên, của tạo hóa. Tuy nhiên ở những câu thơ tiếp theo thì diễn biến tâm lý của nhân vật trữ tình có sự thay đổi:

“Hai thôn chung lại một làng

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này

Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng”

Lời trách móc nhẹ nhàng và rất có chừng mực khi cô gái hững hờ, không quan tâm đến người đang mỗi ngày tương tư. Trách cô gái sao lại giả vờ như không biết gì về tình cảm của mình như thế. Thậm chí chàng còn kể lể nỗi tương tư, mong chờ của mình bằng thời gian. Từng ngày trôi đi dài đằng đẵng một ngày giống như ba thu vậy. Lời thơ cho thấy sự sốt ruột của việc chờ đợi. Mỗi ngày trôi qua lại nhen nhóm lên một tia hi vọng nhưng đến cuối ngày lại tàn úa giống như chiếc lá xanh nay đã không còn giữ được sắc xanh vốn có mà chuyển vàng vậy. Chính sự nhớ nhung khiến cho người ta càng thêm kể lể, tha thở rồi đến trách móc:

“Bảo rằng cách trở đò giang

Không sang là chẳng đường sang đã đành

Nhưng đây cách một đầu đình

Loading...

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?”

Vẫn tiếp tục cái giọng điệu trách móc ấy và đưa ra lí do về khoảng cách của hai người vốn chẳng hề xa xôi, cách trở vậy mà nàng nỡ lòng nào vô tình đến vậy. Có thể thấy những trái tim đang yêu, đang chìm đắng trong sự tương tư mang mọt dáng vẻ hồn nhiên, dễ thương đến lạ kì. Trong nỗi tương tư thì lời trách móc thốt lên giống như một lời buộc tội, sau đó lại như hờn dỗi:

“Tương tư thức mấy đêm rồi

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?”

Tiếp theo đó là hàng loạt những câu hỏi nối tiếp, dồn dập nhau thể hiện sự lo âu của chàng trai khi đang yêu:

“Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?”

Không chỉ vậy tác giả còn mượn những hình ảnh mộc mạc để nói lên sự tương tư, rung động của mình. Hình ảnh ẩn dụ “bến” và “đò” cho đôi lứa gái trai và mượn lối nói dân gian để hỏi xem tại sao cô gái lại có thể hờ hững như vậy. Trong nỗi băn khoăn ấy chàng trai luôn tự hỏi:

“Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”

Như chúng ta đã biết giầu và cau là hai thứ không thể thiếu trong những mối nhân duyên của đôi lứa. Nhất là trong đám hỏi. Chính vì thế nhân vật trữ tình ở đây một lần nữa khẳng định giữa “anh” và “em” có một mối nhân duyên.

Có thể thấy tác giả đã sử dụng những chất liệu ngôn ngữ rất bình dị, thôn quê. Từ những địa danh như “thôn Đoài”, “thôn Đông” rồi những thành ngữ “chín nhớ mười mong”… Khát vọng lứa đôi còn được thể hiện bằng nhiều cặp hình ảnh trong bài: gió mưa – tương tư, tôi – nàng, bên ấy – bên này, bến – đò, hoa khuê các – bướm giang hồ…. Các cặp hình ảnh xuất hiện theo một trình tự nhất định, từ xa đến gần và cuối cùng dừng lại ở hình ảnh giàn giầu – hàng cau. Đó chính là sự khát khao về nhân duyên, tình yêu gắn với hôn nhân trong quan niệm thơ của Nguyễn Bình.

Bài thơ Tương tư đã cho chúng ta thấy được một cái “tôi” trữ tình dám yêu, dám bày tỏ. Tuy rằng mãnh liệt nhưng lại rất chân thành và tế nhị. Nguyễn Bính đã gieo rắc vào lòng người đọc về thứ tình cảm nhẹ nhàng và tha thiết của những người đang yêu.

Phân tích bài thơ Tương Tư của Nguyễn Bính
5 (100%) 1 đánh giá

Từ khóa tìm kiếm:

  • văn học học văn