Ngữ văn lớp 11

Phân tích bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu (dàn ý và bài làm chi tiết)

Phân tích bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu (dàn ý và bài làm chi tiết)

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

+ Phan Bội Châu (1867-1940), thơ văn tiêu biểu cho loại văn chương truyền thuyết và cổ vũ Cách mạng.

+ "Lưu biệt khi xuất dương" : được sáng tác trong buổi chia tay bạn bè để lên đường.

– Nội dung: Vẻ đẹp người chí sĩ Cách mạng 

– Khái quát chung 

2. Thân bài:

* 2 câu đề:

– Tác giả quan niệm:

+ Làm trai phải làm nên chuyện lạ

+ Phải xoay chuyển đất trời chứ không để đất trời xoay chuyển mình

– Lí tưởng của Phan Bội Châu gần gũi với lí tưởng của một số nhà Nho giáo dưới thời phong kiến nhưng lại mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn. 

* 2 câu thực:

– "trăm năm ":

+ 100 năm: khoảng thời gian của lịch sử 

+ thời gian trong cuộc đời của một con người 

=> Trong khoảng thời gian này lịch sử rất cần có đến những bậc anh hùng tài chí như ông và trong một trăm năm tuổi đời của kẻ làm trai phải biết sống hiển hách.

=> Một cái tôi cá nhân khao khát cống hiến.

– Khi làm được sẽ được lưu danh hậu thế và ngược lại thì cũng không có ai được lưu danh 

* 2 câu luận:

 – "non sông đã chết": nước đã mất

 – "sống thêm nhục": nỗi nhục của kẻ mất nước 

=> quan niệm về lẽ sống vinh nhục 

 – Chỉ trích mạnh mẽ với bộ phận nhà Nho lúc bấy giờ còn mù quáng coi con đường công danh khoa cử là con đường để kẻ sĩ cống hiến cho đất nước 

* 2 câu kết:

  – Các hình ảnh: bể Đông, cánh gió, muôn trùng, sóng bạc 

=> tao nên tư thế của con người 

=> thể hiện một khát vọng đẹp với một tư tưởng lãng mạn 

* Khát quất nghệ thuật 

* Liên hệ mở rộng 

3. Kết bài:

 – Khái quát lại nội dung vấn đề 

 – Nêu cảm nhận cá nhân

phan tich luu biet xuat duong - Phân tích bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu (dàn ý và bài làm chi tiết)

Phân tích bài Lưu biệt khi xuất dương

Bài làm tham khảo

Vào những năm tháng cuối thế kỷ XIX khi phong trào Cần Vương thất bại, đất nước rơi vào vòng nô lệ, hàng nghìn hàng vạn con dân rơi vào cảnh lầm than, túng quẫn. Trong bối cảnh của những năm đầu thế kỉ XX, những nhà Nho yêu nước đã thức tỉnh thì Phan Bội Châu cũng là một trong số đó, họ cùng nhau một lòng quyết tâm thành lập tổ chức Duy Tân hội. Và bởi lẽ Nhật Bản với nước ta cùng thuộc khu vực, có cùng màu da, cùng nét văn hóa phương Đông nên Phan Bội Châu nhận thấy rằng Nhật Bản là mặt trời chân lí mới, là một quốc gia mà ta có thể tranh thủ được sự giúp đỡ của họ. Thế rồi ông đã quyết định chia tay bạn bè để sang Nhật Bản tìm con đường mới để cứu nước. Bài thơ "Lưu biệt khi xuất dương" cũng ra đời trong hoàn cảnh đó. 

Xem thêm:  Tả cơn mưa rào mùa hạ lớp 5 hay nhất

Vẻ đẹp của người chí sĩ Cách mang trong bài thơ trước hết được lột tả qua tư tưởng mới mẻ, táo bạo, khát vọng lớn lao cùng quan niệm về chí làm trai:

"Làm trai phải lạ ở trên đời

Há để càn khôn tự chuyển dời"

Xưa kia người ta quan niệm: làm trai đứng trong trời đất cần phải có chí và khí. Cũng dựa trên quan niệm đó mà Phan Bội Châu đã khẳng định: thân là một đấng nam nhi, một bậc quân tử được sinh ra và sống ở đời thì phải nung nấu, nuôi dưỡng chí lớn và làm được những điều kì diệu, những việc lớn lao, phi thường tới mức kinh thiên động địa, những việc mà ít ai có thể làm được: phải lạ. Còn hơn thế nữa là phải biết sống hiển hách, dám mưu đồ xoay chuyển đất trời, xoay chuyển thời cuộc chứ không phó mặc cho số phận, tạo hóa điều khiển, xoay vần mình 

Lí tưởng mà Phan Bội Châu đưa ra trên thực tế rất gần gũi với lí tưởng của hệ Nho giáo. Như Nguyễn Công Trứ trong bài thơ "Chí làm trai" cũng đã nói lên khát vọng tung hoành của mình:

"Chi làm trai nam bắc đông tây

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể"

Hay theo Phan Châu Trinh trong "Đập đá ở Côn Lôn":

"Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn 

Vẫn ngạo nghễ trước gông cùm, xiềng xích 

Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù"

Tuy nhiên, quan niệm của Phan Bội Châu lại có những nét mới mẻ, tiến bộ và cũng mạnh mẽ và quyết liệt hơn nhiều. Đó là việc tách rời hai chữ công danh – trung hiếu, tiền tài – địa vị và hơn thế nữa là sự gắn bó trách nhiệm cá nhân với vận mệnh dân tộc. Là một đấng nam nhi, việc cần thiết phải làm trong hoàn cảnh nước mất nhà tan là khôi phục lại chủ quyền dân tộc và đặt trong hoàn cảnh ra đời của bài thơ việc xoay chuyển đất trời, sự xoay chuyển ấy mang ý nghĩa xoay chuyển vận mệnh đất nước, đưa đất nước từ thân phận nô lệ lầm than trở lại làm chủ vận mệnh, được giữ quyền sống tự do. Mang trong mình tư tưởng mới mẻ, tích cực, tư thế nét đẹp của người chí sĩ Cách mạng được nâng lên một tầm vóc mới với sự hiện diện vô cùng lớn lao và kì vĩ, khỏe khoắn, ngang tàng, dám thách thức cả hoan cảnh, số phận, luôn khát vọng lập nên những chiến công hiển hách, vang dội. 

Trong hai câu thơ tiếp theo, ngồi bệt của tác giả lại hướng đến một nét đẹp khác trong người chí sĩ Cách mạng: cái tôi cá nhân tự tin vào tài năng, phẩm chất năng lực cũng như vai trò lịch sử của mình:

Xem thêm:  Phân tích vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, bi tráng trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

"Trong khoảng trăm năm cần có tớ

Sau này muôn thuở há không ai?"

Hai chữ "trăm năm" gợi cho ta hai cách hiểu khác nhau. Theo quan niệm của người đời, một trăm năm tương đương với một trăm tuổi – là quang thời gian trong một kiếp người. Do đó mà "trăm năm" được nói đến là cuộc sống của một cá nhân trong thực tại. Còn hiểu theo cách khác thì một trăm năm là nói đến khoảng thời gian bề dày lịch sử, nói về quá khứ, nói đến hiện tại và tương lai. Dù hiểu theo lớp nghĩa nào thì câu thơ vẫn muốn hướng người đọc đến với lời khẳng định: trong khoảng thời gian một trăm năm này rất cần có "tôi", lịch sử nước nhà cần đến những con người có chí khí như ông và trong một trăm năm tuổi đời của kẻ làm trai cần phải cống hiến cho đất nước chứ không thể để phí cuộc đời này. Khi đối chiếu giữa phần phiên âm và dịch thơ, chữ "ta" đã chuyển thành chữ "tớ" tuy vẫn giữ được nét nghĩa của sự hăm hở, lạc quan nhưng lại làm mất đi phong thái đường hoàng, trang trọng của một lời tuyên bố hung hồn về le sống của một bậc quân tử, một đấng nam nhi. Lời dịch thơ cũng làm mất đi âm điệu mạnh mẽ, làm mờ nhạt đi tư thế, tầm vóc và lí tưởng của con người muốn vươn tới đỉnh cao của lịch sử, muốn làm nên những chiến công phi thường để lại tiếng vang ở đời:

 "Sau này muôn thuở há không ai"

Khi làm được một việc lớn sẽ được lưu danh sử sách, người đời sẽ biết đến và ngược lại thì cũng chẳng có ai được lưu danh. Câu thơ được viết dưới hình thức của một câu hỏi tu từ đã gây được sự chú ý. Nó như một âm vang, nó đánh thức tất cả mọi người về ý thức, trách nhiệm của mình trước vận mệnh của đất nước, dân tộc.

Khép lại hai câu thực, một cái tôi cá nhân khao khát được cống hiến, một cái tôi cá nhân đầy trách nhiệm thì hai câu luận là một làn gió mới mẻ về quan niệm sống trước hoàn cảnh đất nước đã rơi vào tay bọn xâm lược:

"Non sông đã chết sống thêm nhục

Hiền thánh còn đâu học cũng hoài"

Trong bối cảnh "non sông đã chết", con người sống trong tủi nhục, sống kiếp người lầm than cơ cực, sống dưới áp bức cường quyền, sống trong gông cùm xiềng xích thì đó không còn là cuộc sống nữa. Và nếu cứ tiếp tục sống thờ ơ, buông xuôi, cam chịu thì quả thực đó là một lối sống nhục nhã. Câu thơ là một cách để tác giả bày tỏ quan niệm về lẽ sống của mình, về lẽ sống mà ẩn sâu trong đó là hàm ý phê phán một số bộ phận nhà Nho lúc bấy giờ. Vì vậy câu thơ này một lần nữa có thể xem như một hồi chuông của lời kêu gọi – kêu gọi đồng bào cả nước cần vùng lên đánh đuổi quân xâm lược đang giày xéo lên cuộc sống của con dân nước Việt.

Xem thêm:  Phân tích tâm trạng nhân vật trong “Hạnh phúc của một tang gia” – văn lớp 11

Câu thơ cảm thán:

"Hiền thánh còn đâu học cũng hoài!  "

là một lời chỉ trích mạnh mẽ, quyết liệt đối với một bộ phận nhà Nho lúc bấy giờ vẫn còn đang mù quáng, mê muội, vẫn còn coi con đường công danh khoa cử là con đường để kẻ sĩ cống hiến cho đất nước. Lời phê phán của tác giả là hoàn toàn đúng đắn. Con đường, hướng đi đó không còn phu hợp bởi lẽ nước mất, nhà tan, triều đình nhà Nguyễn lại hèn nhát, cam chịu bán nước và đây không còn là nơi, là lúc cho các bậc quân tử có thể cống hiến tài năng, đức độ. 

Khép lại bài thơ là hình ảnh người chí sĩ trong tư thế lên đường:

"Muốn vượt bể Đông theo cánh gió

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi"

"Bể Đông", "canh gió", "sóng bạc", "muôn trùng" là hàng loạt những từ ngữ hay, giàu sức gợi hình mà đặc biệt là nó mang tầm vóc to lớn của thiên nhiên, vũ trụ: không gian bao la rộng lớn, kì vĩ hoà hợp cùng nhau làm nên vẻ đẹp của con người trong tư thế cùng bay lên tạo thành làn sóng mạnh mẽ, kiên cường. Đó là một bức tranh hoàn mỹ với sự xuất hiện trung tâm chính là con người được khát vọng nâng bước, chắp cánh "bay lên cao", vượt lên trên cái tầm thường, tối tăm của thực trạng xã hội. Tuy lời thơ hào hùng đến thế nhưng trên thực tế cuộc ra đi này của Phan Bội Châu lại vô cùng bí mật. Chặng đường phía trước còn nhiều khó khăn, chông gai, tương lai thì mờ mịt, khát vọng cũng chỉ mới bắt đầu le lói nhưng cái thực tế ấy lại không thể làm vướng bận tinh thần hăm hở, tự tin của con người với khát vọng chính đáng. Câu thơ đã làm hiện lên một khát vọng đẹp với một tư tưởng lãng mạn, hào hùng. Tư thế ấy thể hiện ý chí của những con người sẵn sàng đối mặt với giông tố, thách thức trên con đường thực hiện lí tưởng. Đó là nghĩa khí của một trang nam nhi dám dấn thân vào nơi thử thách để tìm cách làm sống lại non sông đã chết.

Bài thơ chứa đựng một nội dung tư tưởng lớn lao có chí khí làm trai xoay chuyển đất trời, có ý thức cá nhân, trách nhiệm với đất nước, có quan niệm vinh nhục ở đời, có tư thế hăm hở ra đi tìm đường cứu nước. Tất cả là biểu hiện cho lòng nhiệt tình, khát vọng cứu nước tuôn trào của tác giả.

Lê Thị Thư

Lớp 11A2 – Trường THPT Thái Ninh, Thái Thụy, Thái Bình