Ngữ văn lớp 12

Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu (có dàn ý và bài làm chi tiết)

Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Một trong những bài thơ được yêu thích và đặc sắc nhất của Tố Hữu, chính là bài thơ Việt Bắc. Qua việc phân tích từng khổ thơ, cho ta cái nhìn cụ thể hơn về tác phẩm. Đặc biệt ở hai khổ thơ đầu.

Dàn ý chi tiết

I. Mở bài:

Giới thiệu về , tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh ra đời và dẫn dắt đến  hai khổ thơ đầu: Tố Hữu là lá cờ đầu cho nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, là tác gia văn học lớn của dân tộc. Trong đó đặc sắc nhất là bài thơ Việt Bắc, bài thơ ra đời khi chiến dịch Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi, khi những người chiến sĩ cách mạng về xuôi, chia tay với đồng bào Việt Bắc. Hai khổ thơ đầu đã tái hiện niềm thương nỗi nhớ, cũng chính là niềm trăn trở chung của đồng bào ta khi ấy.

II. Thân bài

1: Khổ 1: Nỗi nhớ của người ở lại dành cho người ra đi:

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ suối nhìn sông nhớ nguồn?

– cặp đại từ xưng hô quen thuộc trong ca dao “mình – ta” thể hiện giọng điệu gần gũi, tâm tình, thương mến.

– lặp cấu trúc “mình về có nhớ..” diễn tả nỗi nhớ da diết của người ở lại.

– câu hỏi tu từ: “có nhớ không” “có nhớ ta” bộc lộ nỗi nhớ tha thiết, như tự giãi bày tấm lòng mình.

=> Khổ 1 thể hiện rõ nét tình cảm của người ở lại dành cho người ra đi, như nhắc nhở về cội nguồn cách mạng dân tộc.

2: Khổ 2: Sự đồng vọng của người ra đi:

Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

 – từ láy “tha thiết” “bâng khuâng” “bồn chồn” thể hiện tâm trạng lưu luyến của người ra đi

 – hình ảnh hoán dụ “áo chàm” chỉ những người dân Việt Bắc.

 – cụm từ ‘biết nói gì” nói lên tất cả sự nhwos người của người đi kẻ ở.

=> tiếng lòng đồng vọng của người ra đi, luôn nhớ về chiến khu cách mạng, nhớ về người dân Việt Bắc.

3: Nghệ thuật:

– thể thơ lục bát truyền thống

– sử dụng hình ảnh đối đáp quen thuộc ca dao, hình ảnh hoán dụ, tư láy, câu hỏi tu từ, lặp cấu trúc.

– giọng thơ trữ tình, đằm thắm

– ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu

III: Kết bài

– Nêu cảm nghĩ khổ thơ, khẳng định ý nghĩa giá trị và tác dụng của khổ thơ đối với toàn bài.

phan tich bai tho viet bac - Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu (có dàn ý và bài làm chi tiết)

Phân tích 8 câu đầu bài thơ Việt Bắc

Bài làm tham khảo

Xin tạm biệt cuộc đời yêu quý nhất

Còn mấy vần thơ một nắm tro

Thơ gửi bạn đời tro bón đất

Sống là cho mà chết cũng là cho

Chặng đường trường kì lịch sử đã đi qua, để lại những đau thương và mất mát vô hạn trong lòng người, nhưng cũng khắc ghi biết bao ơn nghĩa không thể nói hết bằng lời. Tố Hữu, người “thư kí trung thành của thời đại” đã ra đi, ông khép lại đời thơ của mình bằng một bài thơ nhỏ. Hơn nửa thế kỉ cầm bút, tiếng thơ Tố Hữu đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi, dưới những thanh âm của tháng năm hòa bình. Tôi vẫn nghe thấy tiếng thơ anh qua những giọng em nhỏ, vẫn nghe thấy những người từng đi qua chiến tranh nhắc thơ anh bằng niềm xúc động sâu xa. Cuộc đời không cho ta mãi mãi, nhưng có thể khẳng định tiếng thơ anh mãi mãi bất tử cùng tháng năm, của hôm qua, hôm nay và mai sau. Tiếng thơ anh không chỉ nói mãi về đau thương, mà còn lấy đau thương làm đòn bẩy nổi bật lên ân tình cách mạng, đoàn kết dân tộc, trong đó không thể không nhắc tới tác phẩm thơ Việt Bắc, đặc biệt hơn cả là tám khổ thơ đầu, những dòng thơ ấy trong Việt bắc đã gọi về trong ta bao niềm thương, niềm nhớ, tự hào dẫn tộc trong những tháng năm làm nên lịch sử vàng của dân tộc.

Xem thêm:  Tả quả dưa hấu em yêu thích

Là một nhà thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu đi đầu trong phong trào cách mạng Việt Nam, Tố Hữu là tiếng thơ mà muôn thế hệ còn sống mãi. Cho tôi được gọi Tố Hữu là anh, bởi mỗi vần thơ Tố Hữu vang lên, ta đều cảm nhận được một mạch nguồn sống trẻ chảy rạo rực trong lòng, và cũng bởi vì thế tôi luôn cảm thấy mình chính là đứa em trong “vạn đầu em nhỏ” mà Tố Hữu đã nguyện làm người anh cả cùng sẻ chia, gắn bó. Người ta thích đọc Tố Hữu cũng bởi lẽ thơ Tố Hữu trẻ, thơ anh trẻ không chỉ bởi chân lí sống “từ ấy” của anh:

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Mà còn bởi sự ân tình, đằm thắm, chất ngọt như chảy từ mạnh nguồn Huế rất riêng, một xứ Huế cứ mãi đằm thằm, tâm tình, thương yêu trong giọng thơ ấy. Nhớ lắm những vần thơ mở đầu:

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ suối nhìn sông nhớ nguồn?

Tố Hữu quả không nói quá khi người ta đặt tên cho anh bằng cái danh: “người thư kí trung thành của thời đại” không chỉ bởi đường cách mạng gắn với đường thơ, mà còn bởi thơ Tố Hữu luôn chứa đựng nghệ thuật của thơ ca truyền thống. Lấy cặp đại từ ca dao “mình..ta” đầy quen thuộc mà ta đã nằm lòng những năm mẹ còn cất lên tiếng ru từng ngày:

Xem thêm:  Bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lí Thường Kiệt vừa là một áng thơ yêu nước vừa là một bài thơ đánh giặc. Em hãy chứng minh ý kiến đó

“Mình về ta chẳng cho về

Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ“

Văn học dân gian, nền tảng của văn học viết, vận dụng nhuần nhuyễn truyền thống, chính là cách tốt nhất để sáng tạo nên những vần thơ hiện đại, khiến chúng không bao giờ cũ. Tố Hữu đã tạo ra điều này trong bài thơ của mình, lời thơ vì thế mà cứ bổi hổi bồi hồi, làm cho người đọc tựa như người bên kia, nghe câu nói tự giãi bày của người ở lại dành cho người ra đi, là của người dân việt bắc dành cho cán bộ cách mạng, trong lòng cũng tự nhiên gợi về bao trăn trở, lo âu, đó là mười lăm năm “thiết tha mặn nồng”, đó là ân tình cách mạng chia nhau những đói cơm rét mướt những ngày đất nước còn chìm trong đau thương, liệu người ra đi, về với hòa bình với an yên, có còn nhớ tới người ở lại hay không? Vì thế, lời thơ Tố Hữu lần nữa bộc bạch lên những câu thơ:

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ suối nhìn sông nhớ nguồn

Tố Hữu hơn một lần vận dụng rất sáng tạo và nhuần nhuyễn văn học dân gian, làm nền tảng tạo nên giọng điệu tâm tình, tự nhiên, chân thành rất hiện đại, rất riêng của mình. Dân gian ta vẫn từng có câu nằm lòng:

“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

“Uống nước nhớ nguồn”

Việt Bắc đã chịu nhiều đau thương, đã cùng gánh trên vai như một “Việt Nam” thu nhỏ của cuộc kháng chiến cứu quốc, vì vậy dù có đi xa, nhưng người ở lại vẫn nhẹ nhàng nói với người ở lại một ân tình cách mạng, mà nơi ấy, “cây” là ẩn dụ cho người ra đi, “núi” và "nguồn” chính là chiến khu miền núi.

Nếu như ở bốn khổ thơ mở đầu, ta cảm nhận rõ nét một sự thiết tha tự giãi bày của người ở lại, như muốn nhắn nhủ những hẹn ước, tấm lòng son sắt của mình. Thì ở khổ thứ hai, chính là tiếng lòng đồng vọng trìu mến của người ra đi, đáp lại những trăn trở của người ở lại:

Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Tố Hữu sử dụng từ láy “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” đã thể hiện rõ nét tâm tình của người chiến sĩ cách mạng lúc về xuôi. Chỉ khi trong lòng còn vương vấn, nhớ nhung, mới có thể nghe thấy, cảm thấu được “tiếng ai” còn đang “tha thiết” và khi ấy, bước chân người lính như bồn chồn, không yên, lúc nào cũng lưu luyến, lúc nào cũng vấn vương, thương nhớ đến nao lòng.

Xem thêm:  Phân tích và nêu cảm nhận về phác thảo chân dung Đô-xtôi-ép-ki của nhà văn Áo Xvai-gơ

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Sử dụng biện pháp hoán dụ, như để tăng sức gợi hình, gợi tả cho sự diễn đạt, áo chàm là áo rất đặc trưng mà chỉ có ở người dân Việt Bắc, nơi mà núi cao rừng thiêng, họ đã lấy cây chàm để nhuộm màu cho sắc áo của mình. Người dân Việt Bắc thân thương, chính là hình ảnh hoán dụ “áo chàm”. Lần chia tay có ý nghĩa lịch sử ấy, được ghi lại với niềm xúc động sâu xa, họ cầm tay nhau, vấn vương, bịn rịn, mười lăm năm ấy đã là quá dài? Vì thế cầm tay nhau, “không nói gì” cũng chính là nói ra rất nhiều. Hẳn vì thế mà khổ thơ thứ hai, được xem như một lời đồng vọng đầy thương mến.

Tố Hữu từ trước đến nay, mỗi khi nhắc đến thơ anh, ta luôn một lòng nhớ tới người đã ghi lại những dấu ấn, những trang sử không bao giờ quên, mà điều đó cũng chính là thứ mang lại một phong cách trữ tình, chính trị mà không ai có thể dễ dàng có được. Tác gia Tố Hữu, ẩn mình phía sau sự đối đáp của người ở lại và người ra đi, cũng đã chính mình bộc lộ tình yêu quê hương, yêu đất nước, trái tim không lúc nào vơi cạn khi hướng về tổ quốc, dân tộc. Vận dụng ca dao dân ca một cách nhuần nhuyễn, kết hợp cùng các từ láy độc đáo, những câu hỏi tu từ như để tự giãi bày tâm tư, cùng một giọng thơ luôn tâm tình, đằm thắm và tha thiết, một giọng Huế mượt mà rất riêng… khép lại hai khổ thơ đầu, cũng chính là mở ra một dòng chảy tiếp theo trong Việt Bắc, mà nơi ấy cuộc sống của cán bộ với người dân Việt Bắc được bộc lộ rõ hơn không chỉ còn là những nỗi nhớ, là lời đáp hỏi đầy vấn vương sâu đậm. Ta yêu Tố Hữu chính vì vậy, ta cảm mến, và ngưỡng mộ anh cũng bởi một trái tim lớn lao, dành trọn cuộc đời, là đường cách mạng, cũng là đường thơ mà anh đã lựa chọn.

Hiểu về Tố Hữu, hiểu tiếng thơ anh mà ta thấy thương yêu anh nhiều lắm, Tố Hữu không cùng ta chứng kiến những tháng năm hòa bình ngày hôm nay, nhưng chính anh đã gọi về trong ta tình yêu đất nước thiêng liêng, là tiếng đồng vọng tới muôn thế hệ, về một quá khứ oanh liệt, hào hùng, không ngại hi sinh, gian khổ ngày trước. Để chúng ta ngày hôm nay, thêm vững vàng, thêm tự tin, hăng say cống hiến và bảo vệ như chính anh  ngày trước đã một lòng tin tưởng, một lòng đi theo chân lí của đảng và cách mạng.

Nguyễn Bích Ngọc

Lớp 12A1 – Trường THPT thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái