Ngữ văn lớp 9

Ôn thi vào 10 môn Văn: ĐOẠN TRÍCH “CHỊ EM THUÝ KIỀU” (“TRUYỆN KIỀU” – NGUYỄN DU)

I. Tìm hiểu chung
1. Vị trí đoạn trích 
Nằm ở phần đầu Truyện Kiều, giới thiệu gia cảnh nhà Vương viên ngoại. Sau 4 câu thơ nói về gia đình họ Vương “Có nhà viên ngoại họ Vương/ Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung/ Một trai con rốt thứ lòng/ Vương quan là chữ nối dòng nho gia” (bậc trung lưu, con trai út là Vương Quan), tác giả dành 24 câu thơ để tập trung nói về tài sắc của Thúy Kiều, Thúy Vân. (Câu 15 đến câu 38)

2. Bố cục đoạn trích 
– 4 câu đầu : Giới thiệu khái quát hai chị em Thúy Kiều.
– 4 câu tiếp theo : Gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân.
– 12 câu tiếp theo : Gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều .
– 4 câu cuối : Cuộc sống của 2 chị em.
–> Bố cục hợp lí : Tác giả tập trung miêu tả kĩ nhân vật Thúy Kiều vì vậy đây là nhân vật chính của truyện, nhân vật Thúy Vân chỉ làm nền cho Thúy Kiều.

II. Tìm hiểu chi tiết văn bản
1.Giới thiệu vẻ đẹp của 2 chị em
– Nội dung
+ Tố nga: người con gái đẹp.
+ Mai cốt cách tuyết tinh thần: hai chị em có cốt cách thanh cao duyên dáng như mai, tâm hồn trong trắng như tuyết.
+ Vẻ đẹp mỗi người một khác : “Mỗi người một vẻ” nhưng hoàn hảo “ mười phân vẹn mười”.
– Nghệ thuật :
+ Bút pháp ước lệ gợi tả vẻ đẹp chung và riêng
+ Giới thiệu ngắn gọn nhưng nổi bật đặc điểm 2 chị em Thúy Kiều.
(Khi viết nên đan xen giữa nội dung và nghệ thuật).

2. Vẻ đẹp Thúy Vân 
– Câu thơ đầu khái quát: “trạng trọng”: vẻ đẹp cao sang quý phái.
– Vẻ đẹp này được so sánh với hình ảnh thiên nhiên: trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết.
– Nghệ thuật: ước lệ
+ Liệt kê: khuôn mặt, đôi mày, mái tóc, làn da, nụ cười, giọng nói.
+ Sử dụng từ ngữ làm nổi bật vẻ đẹp: đầy đặn, nở nang, đoan trang.
+ So sánh, ẩn dụ: khuôn mặt đầy đặn tròn trịa như trăng; đôi lông mày đậm sắc như con ngài, nụ cười tươi như hoa; giọng nói trong như ngọc, nói lời hay ý đẹp, mái tóc bồng bềnh nhẹ hơn mây, nước da trắng như tuyết.
–> Vẻ đẹp tạo sự hòa hợp, êm đềm với xung quanh “mây thua”, “tuyết nhường” dự báo cuộc đời bình lặng suôn sẻ.

3. Vẻ đẹp Thúy Kiều
*Giống như lúc tả Vân :
– Câu thơ đầu khái quát đặc điểm nhân vật : Kiều sắc sảo về trí tuệ và mặn mà về tâm hồn
– Gợi tả vẻ đẹp của Kiều bằng biện pháp ước lệ : “thu thủy” ( nước mùa thu ), “xuân sơn” ( núi mùa xuân ), hoa, liễu.
– Đồng thời tác giả đã sử dụng nghệ thuật so sánh để gợi tả vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt thế.
* Khác :
– Tả vân rất nhiều chi tiết về ngoại hình còn tả Kiều tác giả tập trung gợi tả vẻ đẹp của đôi mắt :
+ Làn thu thủy : làn nước mùa thu dợn sóng gợi lên sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh , linh hoạt…
+ Nét xuân sơn – nét núi mùa xuân lại gợi lên đôi lông mày thanh tú, trên gương mặt trẻ trung.
– Khi tả Vân tác giả chỉ tập trung gợi tả nhan sắc mà không thể hiện cái tài, cái tình của người. Khi tả Kiều nhà thơ tả sắc một phần còn hai phần để tả tài năng : cầm, kì, thi , họa… Trong đó tài đàn đã là sở trường, năng khiếu (nghề riêng) vượt lên trên mọi người.
– Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp của cả sắc – tài – tình : “Nghiêng nước nghiêng thành”. Tác giả dùng câu thành ngữ cổ để khẳng định nhan sắc của nàng là vô địch, là đệ nhất thế gian này.
–> Chân dung Thúy Kiều cũng là chân dung mang tính cách số phận. Vẻ đẹp của Kiều làm cho tạo hóa phải ghen ghét, các vẻ đẹp khác phải đố kị – “hoa ghen”, “liễu hơn” – nên số phận nàng sẽ éo le, đau khổ.
* Chân dung Thúy Vân được miêu tả trước để làm nổi bật lên chân dung của Thúy Kiều ( thủ pháp nghệ thuật đòn bảy). Nguyễn Du chỉ dành 4 câu để gợi tả Vân, dành tới 12 câu thơ để cực tả vẻ đẹp của Kiều. Vẻ đẹp của Vân chủ yếu là ở ngoại hình còn ở vẻ đẹp Kiều là cả nhan sắc, tài năng, tâm hồn.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du (có dàn ý và bài làm chi tiết)

4. Nếp sống thường ngày của chị em Kiều
– Phong lưu: cuộc sống trong một gia đình gia giáo.
– Cập kê: đang trong độ tuổi lập gia đình.
– Thành ngữ “trướng rủ màn che”: nói về cuộc sống kín đáo của con nhà gia giáo, sống trong 4 bức tường khép kín để học nữ công, nữ tắc.
– Ong bướm: là hình ảnh ẩn dụ nói về những kẻ tán tỉnh chị em phụ nữ.
– “mặc ai” :
+Không quan tâm không để ý.
+Đồng thời nêu lên vấn đề với tính cách và vẻ đẹp của Vân – Kiều thì bên ngoài tự nhiên có “mặc kệ” mãi được không.

III. Tổng kết Ghi nhớ Sgk-T83
1. Cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du.
– Đề cao giá trị con người, nhân phẩm, tài năng, khát vọng, ý thức về thân phận cá nhân.
– Nguyễn Du trân trọng cái đẹp đồng thời lo lắng cho số phận của những con người tài hoa nhan săc, thể hiện tấm lòng nhân đạo bao la của đại thi hào Nguyễn Du.
2. Nghệ thuật
– Bút pháp ước lệ, ẩn dụ , so sánh.
– Tả khái quát tả chi tiết, cụ thể về nhân vật.
– Bút pháp : phương pháp đòn bẩy. Có sự kết hợp giữa yếu tố tự sự + miêu tả.

Luyện tập

Câu 1: Trong hai bức chân dung của Thúy Vân và Thúy Kiều, em thấy bức chân dung nào nổi bật hơn, vì sao ?
– Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ước lệ để ca ngợi cả hai chị em Thúy vân, Thúy Kiều nhưng đậm nhạt khác nhau ở mỗi người, rõ ràng bức chân dung của Thúy Kiều nổi bật hơn.
Chân dung Thuý Vân Chân dung Thuý Kiều
– Dùng 4 câu thơ để tả Vân.
– Với Vân chỉ tả ngoại hình theo thủ pháp liệt kê.
– Với Vân chỉ tả sắc.
– Miêu tả chân dung Thuý Vân trước để làm nổi bật chân dung Thuý Kiều. – 12 câu để tả Kiều
– Đặc tả đôi mắt của Kiều theo lối điểm nhãn vẽ – vẽ hồn cho nhân vật, gợi nhiều hơn tả – với Kiều tả cả sắc, tài, tâm.=> Tóm lại:
– Đặc tả vẻ đẹp của Thúy Vân, Nguyễn Du tập trung miêu tả các chi tiết trên khuôn mặt nàng bằng bút pháp ước lệ và nghệ thuật liệt kê -> Thuý Vân xinh đẹp, thùy mị đoan trang, phúc hậu và rất khiêm nhường.
– Đặc tả vẻ đẹp của Thuý Kiều, Nguyễn Du tập trung làm nổi bật vẻ đẹp của tài và sắc.
+ Tác giả miêu tả khái quát: “Sắc sảo mặn mà”.
Một vừa hai phải ai ơi
Tài tình chi lắm…
+ Đặc tả vẻ đẹp đôi mắt: vừa gợi vẻ đẹp hình thức, vừa gợi vẻ đẹp tâm hồn (hình ảnh ước lệ).
+ Dùng điển cố “Nghiêng nước nghiêng thành” diễn tả vẻ đẹp hoàn hảo có sức lôi cuốn mạnh mẽ.
+ Tài năng: phong phú đa dạng, đều đạt tới mức lý tưởng.
– Cái tài của Nguyễn Du biểu hiện ở chỗ miêu tả ngoại hình nhân vật làm hiện lên vẻ đẹp tính cách và tâm hồn. Và đằng sau những tín hiệu ngôn ngữ lại là dự báo về số phận nhân vật.
+ “Thua, nhường” -> Thuý Vân có cuộc sống êm đềm, suôn sẻ.
+ “Hờn, ghen” -> Thuý Kiều bị thiên nhiên đố kỵ, ganh ghét -> số phận long đong, bị vùi dập.Câu 2: Cảm hứng nhân đạo của tác giả Nguyễn Du thể hiện qua đoạn trích:- Trong truyện Kiều, một trong những biểu hiện của cảm hứng nhân đạo là việc ca ngợi, đề cao những giá trị, phẩm chất của con người như nhan sắc, tài hoa, nhân phẩm, khát vọng, ý thức về thân phận, nhân phẩm cá nhân.
– Một trong những ví dụ điển hình của cảm hứng nhân đạo ấy là đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”. Nguyễn Du sử dụng những hình ảnh đẹp nhất, những ngôn từ hoa mĩ nhất để miêu tả vẻ đẹp con người, phù hợp với cảm hứng ngưỡng mộ, ngợi ca giá trị con người. Tác giả còn dư cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh của Kiều. Đó chính là cảm hứng nhân văn cao cả của Nguyễn Du xuất phát từ lòng đồng cảm sâu sắc với mọi người.
Xem thêm:  Em hãy viết bài văn để thuyết phục các bạn chăm học hơn

Câu 3: So sánh đoạn thơ “Chị em Thuý Kiều” với trích đoạn trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, ta càng thấy được sự sáng tạo tài tình của Nguyễn Du.

– Nếu như Thanh Tâm Tài Nhân kể về hai chị em Thuý Kiều bằng văn xuôi thì Nguyễn Du miêu tả họ bằng thơ lục bát.
– Thanh Tâm Tài Nhân chủ yếu là kể về hai chị em Kiều; còn Nguyễn Du thì thiên về gợi tả sắc đẹp Thuý Vân, tài sắc Thuý Kiều.
– Thanh Tâm Tài Nhân tả Kiều trước, Vân sau: “Thuý Kiều mày nhỏ mà dài, mắt trong mà sáng, mạo như trăng thu, sắc tựa hoa đào. Còn Thúy Vân thì tinh thần tĩnh chính, dung mạo đoan trang, có một phong thái riêng khó mô tả”. Đọc lên ta cảm giác như tác giả tập trung vào Vân hơn, hình ảnh của Vân nổi bật hơn. Ngay ở đoạn giới thiệu đầu truyện, hình ảnh Kiều cũng không thật sự nổi bật. Còn Nguyễn Du tả Vân trước làm nền tô đậm thêm vẻ đẹp của Kiều theo thủ pháp nghệ thuật đòn bẩy.
– Khi miêu tả, Nguyễn Du đặc biệt chú trọng đến tài năng của Kiều, qua việc miêu tả ngoại hình, tài hoa còn thể hiện được tấm lòng, tính cách và dự bảo được số phận nhân vật. Thanh Tâm Tài Nhân không làm được điều đó, bút pháp cá thể hoá nhân vật của ông không rõ nét bằng của Nguyễn Du.
Nhưng sự khác biệt này đã giải thích vì sao cùng một cốt chuyện mà “Kim Vân Kiều truyện” chỉ là cuốn sách bình thường, vô danh còn “Truyện Kiều” được coi là một kiệt tác, Thanh Tâm Tài Nhân chỉ là tác giả không có danh tiếng, ít người biết đến trong khi Nguyễn Du là một tác giả lớn, một đại thi hào.

Xem thêm:  Viết đoạn văn (từ 8 đến 10 câu) bày tỏ suy nghĩ, tình cảm của em về nhân vật Thị Kính qua đoạn trích “Nỗi oan hại chồng” (trích “Quan Âm Thị Kính”), trong đó có sử dụng phép liệt kê (gạch chân dưới câu sử dụng phép liệt kê)